Cần xác định đúng thời điểm kết thúc gói kích cầu của Chính phủ

Thứ năm - 07/01/2010 08:10
Các chính sách điều hành vĩ mô và các gói giải pháp kích cầu đã tác động tích cực đến toàn nền kinh tế và đến hoạt động của các doanh nghiệp. Gói kích cầu thứ nhất bằng hỗ trợ lãi suất 1 tỷ USD, bước đầu đã có những dấu hiệu tích cực.
 Tính đến giữa tháng 7, dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đã đạt trên 377.690 tỷ đồng. Tuy nhiên, việc tiến hành gói kích cầu thứ hai trị giá 8 tỷ USD cần thận trọng, kiềm chế và có kiểm soát...

Đó là nhận định của các chuyên gia kinh tế trong nước và quốc tế tại Hội thảo "Hiệu quả gói giải pháp kích cầu của Chính phủ" do Hiệp hội các nhà Quản trị doanh nghiệp Việt Nam (VACD) tổ chức ở Hà Nội sáng nay (23/7).
Bằng các nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn, các chuyên gia kinh tế hàng đầu trong nước và quốc tế, các nhà quản trị doanh nghiệp đã chia sẻ những nhận định, đánh giá của mình về diễn biến của nền kinh tế 6 tháng qua và xu thế thời gian tới.

Theo đánh giá của các đại biểu tham dự Hội thảo, việc Chính phủ thực hiện gói kích cầu trị giá 1 tỷ USD và đưa ra gói kích cầu thứ hai trị giá 8 tỷ USD nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và bảo đảm an sinh xã hội trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các nền kinh tế lớn suy thoái, sản xuất và kinh doanh trong nước gặp rất nhiều khó khăn là rất cần thiết. Các đại biểu cũng cảnh báo những rủi ro có thể xảy ra và nêu ra những khuyến nghị trong quản trị đối với các doanh nghiệp và đối với các cơ quan chính phủ.

Gói kích cầu thứ nhất đã phát huy tác dụng

Theo Giáo sư TSKH Nguyễn Quang Thái (Hội khoa học kinh tế Việt Nam), 6 tháng đầu năm 2009, kinh tế đã có sự khởi sắc trong khó khăn. Gói kích cầu bằng hỗ trợ lãi suất 1 tỷ USD của Chính phủ đã phát huy một phần tác dụng. GDP đã tăng dần từ 3,1% (quý I) lên 4,5% quý II, tính chung 6 tháng đầu năm GDP tăng 3,9%.

Bà Cao Thị Thúy Nga- Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Quân Đội (MB)- cho rằng, Chương trình hỗ trợ lãi suất là một giải pháp đưa ra kịp thời giữa lúc doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốn duy trì hoạt động sản xuất, tạo động lực để các doanh nghiệp duy trì sản xuất kinh doanh, tìm kiếm cơ hội phát triển mới. Cùng với số vốn đã được giải ngân, chương trình Hỗ trợ lãi suất không chỉ giúp các doanh nghiệp ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh mà còn tác động tích cực tới kinh tế vĩ mô, giúp nền kinh tế vượt qua thời kỳ suy giảm khó khăn.

Tuy kinh tế 6 tháng đầu năm đã khởi sắc trong tình hình khó khăn, nhưng xuất khẩu giảm tới 18,1% so với cùng kỳ năm 2008 và giá trị sản xuất công nghiệp cũng sụt giảm mạnh so với cùng kỳ 2008. Điều này cho thấy, tình hình 6 tháng cuối năm khả năng sẽ rất khó khăn, nhiều khả năng sẽ xảy ra tái lạm phát khi sử dụng gói kích cầu thứ hai, do dư nợ tín dụng tăng.

Giáo sư Thái khuyến nghị, việc sử dụng gói kích cầu thứ hai phải thận trọng, cần kiểm soát chặt, nếu không sẽ dễ dẫn đến lạm phát. Chúng ta cần phải tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc doanh nghiệp để đón đầu cơ hội mới sau khủng hoảng. Bởi khi kinh tế thế giới phục hồi mà chuẩn bị không tốt thì kinh tế Việt Nam sẽ vẫn khó khăn. Giáo sư Thái nhấn mạnh, doanh nghiệp cần phải tự vươn lên cứu mình, tìm ra giải pháp của riêng mình, đặc biệt, cần coi trọng cả thị trường trong và ngoài nước, bởi với nền kinh tế hội nhập, doanh nghiệp không chỉ đóng khung vào thị trường trong nước mà phải vươn ra toàn cầu.

Đã đến lúc xác định thời điểm kết thúc gói kích cầu

Theo ông Nick Freeman, chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Phát triển Châu Á, kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã bắt đầu được cải thiện từ quý 2/2009 và có lẽ đã qua mức đáy. Tuy nhiên, Việt Nam phải mất thêm nhiều thời gian để lấy lại tăng trưởng và điều này còn phụ thuộc phần nào vào nền kinh tế toàn cầu.

Các gói kích thích kinh tế toàn diện thường được tung ra khi tất cả những công cụ chính sách thông thường không có khả năng làm hồi sinh nền kinh tế đang đóng băng. Những gói kích thích này thường được xây dựng và thực hiện vội vã nên chắc chắn có những rủi ro và có những tác động không mong muốn xảy ra. Một điểm dễ nhận ra của các gói kích thích này là chi phí bỏ ra là rất lớn. Cùng với đó những luồng tiền lớn đổ vào thị trường đặt ra những bài toán mới cần giải quyết. Vì vậy các Chính phủ khi thực hiện chính sách kích thích kinh tế thường thực hiện rất nhanh, không kéo dài.

Ông Freeman cho rằng, gói kích thích kinh tế là cần thiết trong bối cảnh suy thoái toàn cầu, nhưng chỉ nên áp dụng trong thời gian ngắn và coi nó là một công cụ bất thường dành cho thời điểm bất thường. Cần xác định thời điểm kết thúc chiến lược kích thích kinh tế hợp lý. Bởi nếu kết thúc kích cầu quá sớm thì nền kinh tế có thể suy thoái trở lại (quay lại tình trạng như quý 4/2008 và trong quý I/2009). Còn nếu kéo dài, kết thúc muộn thì kinh tế có thể trở nên quá "nóng" và có nguy cơ trở lại giai đoạn quý 4/2007, đầu quý I/2008 với tỷ lệ lạm phát cao.

Cũng theo ông Freeman, đã đến lúc phải xác định thời điểm kết thúc kích cầu. Thời điểm kết thúc gói kích thích kinh tế có nhiều khả năng trùng với quá trình chuẩn bị cho chiến lược kinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2012 của Việt Nam, và Việt Nam nên tiếp tục tập trung vào lộ trình thúc đẩy năng lực cạnh tranh, cải cách kinh tế dài hạn.

Một điểm chung được các chuyên gia kinh tế nhất trí tại Hội thảo, đó là: để nền kinh tế Việt Nam có thể vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay và chuẩn bị đón đầu cơ hội khi kinh tế thế giới phục hồi đang phụ thuộc rất nhiều sự điều hành của Chính phủ và đặc biệt là sự nỗ lực của từng doanh nghiệp.

Tác giả bài viết: Văn Nam

Nguồn tin: cpv.vn

Gửi bình luận của bạn
Mã chống spamThay mới

Những tin mới

Những tin cũ